Safe System và An toàn đường bộ
"Safe System" - Hệ thống an toàn là một cách tiếp cận quản lý an toàn đường bộ, dựa trên nguyên tắc rằng cuộc sống và sức khỏe của chúng ta không nên bị ảnh hưởng bởi nhu cầu đi lại. Trong Hệ thống An toàn, năm trụ cột của môi trường đường bộ cùng nhau hoạt động như một, để giảm thiểu rủi ro. Các nguyên tắc của Hệ thống An toàn được đưa vào trong Vision Zero.
Chúng ta sẽ đề cập đến:
Cách tiếp cận Hệ thống An toàn là gì?
Các bộ phận của Hệ thống an toàn là gì?
Tại sao chúng ta cần phương pháp Hệ thống An toàn?
Hệ thống An toàn được phát triển như thế nào?
Hệ thống an toàn là gì?
Hệ thống An toàn là một cách tiếp cận an toàn đường bộ lấy con người làm trung tâm và bắt nguồn từ niềm tin rằng mọi trường hợp tử vong hoặc thương tích nghiêm trọng trên đường đều có thể phòng ngừa được.
Phương pháp Hệ thống An toàn được xây dựng dựa trên hai sự thật cơ bản về con người.
Mọi người mắc sai lầm và sẽ phạm sai lầm khi đi trên đường
Mọi người dễ bị thiệt mạng hoặc bị thương nặng nếu họ dính vào một vụ va chạm.
Hệ thống An toàn nhận ra những sự thật này và tìm cách thiết kế dể đưa chúng ra khỏi phương trình.
Nói một cách đơn giản, điều này có nghĩa là tất cả các yếu tố của hệ thống đường bộ - phương tiện, cơ sở hạ tầng, giới hạn tốc độ, người tham gia giao thông và chăm sóc sau va chạm - phối hợp với nhau như một để giảm thiểu khả năng xảy ra va chạm, hoặc, nếu xảy ra va chạm, để ngăn ngừa tử vong hoặc thương tích nghiêm trọng xảy ra.
Các bộ phận của Hệ thống an toàn
Đường an toàn
Theo phương pháp Hệ thống an toàn, đường được thiết kế để giảm nguy cơ xảy ra tai nạn và mức độ nghiêm trọng của thương tích nếu xảy ra tai nạn. Các tính năng an toàn được đưa vào thiết kế đường ngay từ đầu: Phân loại người sử dụng đường bộ, phân luồng giao thông, tốc độ,
Tốc độ an toàn
Giới hạn tốc độ trong Hệ thống an toàn dựa trên việc hỗ trợ tránh va chạm và giới hạn của cơ thể con người đối với chấn thương vật lý. Một người đi bộ không được bảo vệ bị đâm ở tốc độ trên 20mph có nguy cơ tử vong hoặc thương tích nghiêm trọng. Một chiếc ô tô trong một vụ va chạm bên hông có thể bảo vệ người ngồi trong xe lên đến khoảng 30mph; một chiếc ô tô trong một vụ va chạm trực diện lên đến khoảng 40mph.
Phương tiện an toàn
Xe cộ được thiết kế, chế tạo và quản lý để giảm thiểu sự cố và hậu quả của va chạm, tập trung vào khả năng sống sót sau va chạm. Có hai yếu tố chính tạo nên xe cộ an toàn hơn – công nghệ và khả năng lưu thông trên đường
Người sửu dụng đường an toàn
Mọi người sử dụng đường bộ đều được khuyến khích sử dụng đường bộ một cách an toàn và tuân thủ luật lệ giao thông. Trọng tâm được đặt vào triết lý chia sẻ và trách nhiệm tương xứng. Hệ thống an toàn khuyến khích sử dụng đường bộ an toàn hơn theo nhiều cách, bao gồm: giảm lưu lượng giao thông, giáo dục, khuyến khích sử dụng đường phố cho các mục đích khác, sáng kiến khác...
Chăm sóc sau tai nạn
Trong trường hợp xảy ra tai nạn, các biện pháp được đưa ra để ngăn ngừa tử vong, hạn chế mức độ nghiêm trọng của chấn thương và đau đớn gây ra, đồng thời cung cấp cho những người sống sót cơ hội phục hồi tốt nhất. Điều này bao gồm phản ứng khẩn cấp mạnh mẽ và phù hợp cùng với việc cung cấp hỗ trợ và chăm sóc dài hạn.
Tại sao chúng ta cần phương pháp Hệ thống An toàn?
Tai nạn giao thông là nguyên nhân gây tử vong lớn nhất trên toàn cầu đối với những người từ 5 đến 29 tuổi: 1,35 triệu ca tử vong mỗi năm. Còn nhiều chấn thương khủng khiếp hơn nữa, gây ra các khuyết tật như liệt, chấn thương đầu nghiêm trọng và cắt cụt chi.
Khí thải từ xe cộ góp phần làm nóng lên toàn cầu và đầu độc không khí chúng ta hít thở. Sử dụng ô tô quá nhiều có nghĩa là nhiều người dành ít thời gian hoặc không dành thời gian đi bộ hoặc đạp xe. Không khí độc hại và thiếu vận động hàng ngày đều góp phần gây ra nhiều loại bệnh tật và tử vong sớm.
Khi chúng ta có quá nhiều xe cộ, chúng ta sẽ có ít không gian hơn cho mọi người. Quá nhiều xe cộ và xe cộ chạy nhanh gây ra nỗi sợ hãi, căng thẳng và lo lắng, cô lập xã hội và tiếng ồn, và khí thải của chúng có mùi hôi.
Người nghèo ít có khả năng sở hữu ô tô và có nhiều khả năng sống gần những con đường đông đúc. Họ phải đối mặt với nguy cơ bị đâm cao hơn khi cố gắng di chuyển. Họ dành nhiều thời gian hơn để hít thở không khí bẩn và tiếp xúc với tiếng ồn giao thông.
Tử vong và thương tích do tai nạn giao thông, và do bệnh tật liên quan đến ô nhiễm không khí và thiếu hoạt động thể chất, gây thiệt hại cho nền kinh tế quốc gia và khu vực, đặc biệt là mất đi những đóng góp kinh tế mà những người tử vong và bị thương có thể đóng góp. Ngoài ra còn có chi phí cho các dịch vụ cấp cứu, chăm sóc bệnh viện, chi phí chăm sóc người khuyết tật và chi phí chăm sóc người phụ thuộc của người lớn đang đi làm đã tử vong hoặc bị tàn tật và không thể lao động.
Hệ thống An toàn được phát triển như thế nào ?
Hai quốc gia đầu tiên áp dụng phương pháp Hệ thống an toàn cho an toàn giao thông là Thụy Điển và Hà Lan.
Thụy Điển đã đưa ra “Tầm nhìn số 0” vào năm 1994, dựa trên một chiến lược đã được sử dụng trong ngành vận tải hàng không và đường sắt, và được tóm tắt bằng câu “Không chấp nhận mất mát về người”. Tầm nhìn số 0 đã trở thành luật vào năm 1997 như một phần của Dự luật An toàn Giao thông Đường bộ, đặt ra mục tiêu cuối cùng là không có trường hợp tử vong hoặc thương tích nghiêm trọng nào trên đường bộ của Thụy Điển.
Hà Lan đã thí điểm phương pháp An toàn bền vững vào năm 1995, sau đó là chương trình khởi động toàn diện vào năm 1997. An toàn bền vững có đôi chút khác biệt so với phương pháp Vision Zero của Thụy Điển ở chỗ phương pháp này không giả định rằng người tham gia giao thông sẽ tuân thủ luật lệ, và coi thông tin và giáo dục công chúng là một phần thiết yếu của Hệ thống an toàn.